Giấc ngủ của trẻ và những đặc điểm liên quan

Được đăng bởi Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018 0 nhận xét


Giấc ngủ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển và trí tuệ của bé. Tuy nhiên không phải trẻ nào cũng sinh ra có được nết ăn nết ngủ ngoan ngoãn làm cho cha mẹ chăm sóc cảm thấy vô cùng mệt mỏi và lo lắng.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về các đặc điểm giấc ngủ của trẻ, các bạn cùng tham khảo nhé.

Đặc điểm giấc ngủ của trẻ sơ sinh



Giấc ngủ của trẻ sơ sinh không theo nhịp ngày đêm. Điều này đồng nghĩa với việc bạn sẽ mệt mỏi với thời gian biểu bất thường của bé. Bạn sẽ phải thức dậy nhiều lần trong đêm để thay tã, cho bú và dỗ bé ngủ.
Chu kỳ giấc ngủ của trẻ sơ sinh ngắn hơn so với người lớn, bé dành nhiều thời gian ngủ ở tình trạng chuyển động mắt nhanh (REM), điều cần thiết cho sự phát triển đặc biệt của bộ não bé. Đặc điểm của giấc ngủ với chuyển động mắt nhanh (REM) là không sâu như giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh (non – REM). Kết quả, trẻ sơ sinh dễ dàng thức giấc.
Khi trẻ được từ 6 đến 8 tuần tuổi, hầu hết trẻ sơ sinh bắt đầu ngủ ít hơn vào ban ngày và ngủ dài hơn vào ban đêm, mặc dù vẫn thức dậy để bú suốt đêm. Giấc ngủ của bé đang dần chuyển sang trạng thái ngủ sâu (non – rem) nhiều hơn trước.
Trong giai ddaonj từ 4 đến 6 tháng tuổi, hầu hết các bé có thể ngủ một giấc dài từ 8 đến 12 giờ suốt đêm. Một số bé đã ngủ được lâu vào ban đêm ngay từ 6 tuần tuổi, nhưng nhiều bé khác phải chờ tới 5 hoặc 6 tháng tuổi.

Bí quyết giúp mẹ cho bé ngủ ngon giấc

Đảm bảo bé được bú đầy đủ trước khi đi ngủ

Để giúp bé ngủ ngon không bị tỉnh giấc trong thời gian ngủ thì các mẹ phải cần đam bảo đó là các con được bú no bụng và không bị đói. Tại vì dạ dày của bé rất nhỏ mỗi lần bé chỉ bú được một lượng nhỏ. Do đó các mẹ cần phải cho bé bú thành nhiều lần trong ngày. Khi bé được bú đầy đủ không bị quấy khóc, nằm im thin thít và ngủ một mạch đến sáng.

Nhiệt độ phòng và nhiệt độ cơ thể vừa phải

Mẹ hãy đảm bảo rằng nhiệt độ của cơ thể bé và nhiệt độ của phòng tại thời điểm bé đi ngủ ở mức vừa phải, hợp lý. Khi nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, thì những điều này đều không tốt cho cơ thể của bé và ảnh hưởng đến giấc ngủ của bé.
Như vậy nhiệt độ phòng thích hợp cho trẻ là dao động từ 20 – 30 độ là khá an toàn, còn nhiệt lý tưởng nhất dành cho bé là từ 26 đến 28 độ C.

Thay bỉm tã cho bé trước khi đi ngủ

Đây là một trong những công việc cũng vô cùng quan trọng mà mẹ cần phải chú ý. Việc thay bỉm tã trước khi đi ngủ khiến trẻ luôn được khô ráo thoáng mát, trẻ sẽ cảm thấy dễ chịu hơn khi ngủ. Điều này còn tránh được các bệnh viêm da, hăm da ở trẻ. Đặc biệt các mẹ nên căn giờ giấc để kiểm tra bỉm tã của trẻ, tránh trường hợp để quá giờ, bé tè nhiều dẫn đến giấc ngủ của trẻ bị gián đoạn.
Xem thêm các bí quyết giúp bé ngủ ngon: TẠI ĐÂY

Trên đây là bài tổng hợp các thông tin liên quan đến đặc giấc ngủ và các mẹo giúp trẻ ngủ ngon. Hy vọng với những thông tin trên sẽ giúp ích được cho các mẹ.

Bạn có thể quan tâm:


| edit post

Hỏi đáp bệnh tai biến mạch máu não

Được đăng bởi Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012 0 nhận xét

Tổng hợp đầy đủ các câu hỏi được Bác sĩ Trần Đình Hoàng trả lời.

Hỏi: Tai Biến Mạch Máu Não là bệnh gì?

Đáp: Tai biến mạch máu não tiếng Anh gọi là stroke hay cerebrovascular accident (CVA) xảy ra lúc mạch máu đem dưỡng khí và chất dinh dưỡng đến nuôi não bị vỡ ra hay nghẽn lại. Lúc não thiếu máu như vậy, dưỡng khí sẽ bị thiếu và tế bào não sẽ chết đi.

Hỏi: Bệnh Tai biến mạch máu não có thường xảy ra không?

Đáp: Hàng năm tại Hoa Kỳ có khoảng 730,000 trường hợp mới của bệnh Tai biến mạch máu não. Theo thống kê năm 2000 ở Úc, mỗi năm có 12,000 người chết vì bệnh Tai biến mạch máu não so với 24,000 người chết vì bệnh tim. Càng lớn tuổi càng dễ bị Tai biến mạch máu não. Trên thế giới từ thập niên 70s, số tử vong do Tai biến mạch máu não giảm xuống còn 7% mỗi năm nhờ sự hữu hiệu của việc điều trị bệnh cao huyết áp.

Hỏi: Có dễ bị Tai biến mạch máu não lần thứ hai không?

Đáp: Rất dễ bị Tai biến mạch máu não lần thứ hai. Trong vòng 5 năm kể từ lần bị đầu tiên có từ 1/3 đến Ỏ số người sống sót sẽ bị Tai biến mạch máu não lần thứ hai. Có nghĩa là 34% đến 50% (hay 1 trong 2 hay 3 người sẽ bị Tai biến mạch máu não lần thứ hai).

Hỏi: Bệnh Tai biến mạch máu não được phân loại như thế nào?

Đáp: Bệnh Tai biến mạch máu não đuợc chia thành nhiều loại chính dựa trên sự hư hại của mạch máu: mạch máu bị nghẽn hay mạch bị vỡ làm chảy máu trong đầu. Vì mỗi loại Tai biến mạch máu não có cách điều trị khác nhau cho nên các BS cần định bệnh sớm và xác định loại nào và nơi hư hại một cách chính xác. Loại nghẽn mạch máu gây ra sự thiếu máu đến não (tiếng Anh gọi là ischemic stroke) có thể do máu đông tại chỗ "thrombotic stroke" hay bị nghẽn vì cục máu chuyển đi từ nơi khác trong thân thể "embolic stroke"

  • 53% Tai biến mạch máu não thuộc loại thrombotic stroke
  • 31% thuộc loại embolic stroke
  • 13% do chảy máu trong sọ
  • 6% do chảy máu dưới màng nhện trong vỏ não.

Hỏi: Có bệnh nào gây ra chảy máu trong Tai biến mạch máu não?

Đáp: Mạch máu bị vỡ làm cho thiếu máu ở vùng não sau nơi vỡ và các tế bào não bị chết đi. Ngoài ra, máu chảy ra đông lại thành cục có thể đẩy lệch các cơ cấu của não và làm hư hại các chức năng của não bộ. Có 2 loại chảy máu trong đầu: một là chảy máu dưới màng nhện; hai là chảy máu trong sọ. Loại chảy máu dưới màng nhện có thể do bệnh mạch lựu (nở động mạch- aneurysm) hay do tật động tĩnh mạch bẩm sinh - arteriovenous malformations (AVM).

Hỏi: Xin mô tả các triệu chứng báo hiệu bệnh Tai biến mạch máu não

Đáp: BS của quí vị có thể tìm thấy các dấu hiệu cho thấy quí vị dễ bị Tai biến mạch máu não. Quí vị cũng có thể được báo hiệu bởi các triệu chứng của bệnh Tai biến mạch máu não như sau:

  • 1. tự nhiên thấy yếu, tê rần hay liệt tay chân hay mặt nhất là nếu bị một phiá của thân thể
  • 2. mất khả năng nói hay khó nói hay không hiểu ngôn ngữ
  • 3. đột nhiên mất thị giác nhất là ở một mắt.
  • 4. đột nhiên nhức đầu dữ dội không có nguyên nhân
  • 5. đột nhiên chóng mặt, mất thăng bằng.

Hỏi: Thế nào là cơn thiếu máu tạm thời (TIA: transient ischemic attack)?

Đáp: Khoảng 1/3 các trường hợp Tai biến mạch máu não được báo hiệu trước bằng cơn thiếu máu tạm thời, tiếng Anh gọi tắt là TIA (Transient Ischemic Attack). TIA có thể xảy ra trước Tai biến mạch máu não vài ngày, vài tuần hay vài tháng. TIA xảy ra do sự tạm thời ngưng cung cấp máu lên não. Triệu chứng thường ngắn hạn từ vài phút đến vài giờ. Chẳng hạn quí vị đột nhiên thấy yếu tay hay yếu chân rồi tự nhiên triệu chứng biến mất. Đó là triệu chứng báo hiệu quan trọng, quí vị phải đi khám BS ngay.

Hỏi: Có liên hệ gì giữa thuốc ngừa thai và bệnh Tai biến mạch máu não?

Đáp: Thuốc ngừa thai đặc biệt là loại chứa nhiều estrogen làm tăng gia hiểm nguy đông máu có thể gây ra bệnh Tai biến mạch máu não, nhất là ở phụ nữ trên 30 tuổi.

Hỏi: Các yếu tố gây bệnh Tai biến mạch máu não?

Đáp: Có nhiều yếu tố gây hiểm nguy của bệnh Tai biến mạch máu não như: tuổi tác, tính phái, sắc dân và bệnh sử gia đình.

Càng lớn tuổi càng dễ bị Tai biến mạch máu não; 2/3 các trường hợp xảy ra ở người trên 65 tuổi. Bệnh Tai biến mạch máu não xảy ra ở đàn ông 25% nhiều hơn đàn bà. Người Mỹ da đen bị Tai biến mạch máu não nhiều hơn người da trắng.

Ngoài ra cũng có nhiều yếu tố có thể thay đổi được trong việc gây bệnh Tai biến mạch máu não như chữa trị bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, không hút thuốc lá, giữ cho người không quá mập, tăng gia thể dục thể thao, ăn uống điều độ, giảm cholesterol hay tránh thuốc ngừa thai ở phụ nữ dễ bị đông máu.

Hỏi: Các phương pháp mới để định bệnh Tai biến mạch máu não?

Đáp: Trong bệnh Tai biến mạch máu não, định bệnh sớm và chính xác rất quan trọng. Các phương cách định bệnh hiện đại sau đây được dùng để định bệnh Tai biến mạch máu não:

  • 1. hình cắt lát CT scan là phương cách đầu tiên cho người bệnh ở phòng cấp cứu. CT scan giúp phân biệt nhanh chóng loại Tai biến mạch máu não do nghẽn mạch hay do chảy máu.
  • 2. Hình MRI giúp xác định chính xác vị trí hư hại trong bệnh Tai biến mạch máu não. Hình rất bén nhậy cho nên thường dùng trong các bệnh Tai biến mạch máu não do các mạch nhỏ
  • 3. MRA, để tìm xem nơi chảy máu và phân loại 4. Transcranial Dopler 5. Carotid Duplex Scanning để xem động mạch ở cổ có bị nghẽn không
  • 6. Xenon CT scan dùng để đo lưu lượng máu trong não
  • 7. Radionuclide SPECT Scanning dùng chất phóng xạ để đo lưu lượng máu trong não.
  • 8. Hình chụp mạch máu não có thể cho biết tình trạng của các mạch máu não.

Bác sĩ Trần Đình Hoàng

Có thể bạn quan tâm:

| edit post

Phân biệt và cách sử lý 2 chứng sốt virus và sốt xuất huyết

Được đăng bởi Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012 0 nhận xét

Hỏi: Xin hỏi bác sĩ về triệu chứng của sốt virus và sốt xuất huyết khác nhau như thế nào ? Để điều trị 2 loại bệnh này ở nhà có thể uống thuốc hạ sốt và truyền nước được không ? Nếu không thì có thể dùng thuốc gì hay điều trị thế nào ở nhà ? Xin cảm ơn bác sĩ! (Phạm Văn Hiếu)

Trả lời:

1. Sốt do nhiễm virus

Sốt cao: Đây là biểu hiện thường gặp ở những trường hợp sốt do virus, thường từ 38 đến 39 độ C, thậm chí 40-41 độ C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol... Khi hạ sốt, trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường.

Đau mình mẩy: Ở trẻ lớn thì đau cơ bắp nên trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc.

Đau đầu: Một số trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã.

Viêm long đường hô hấp: Các biểu hiện của viêm long đường hô hấp như ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng đỏ...

Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do virus đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, không có máu, chất nhầy.

Viêm hạch: Các hạch vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau có thể nhìn hoặc sờ thấy.

Phát ban: Thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt.

Viêm kết mạc: Kết mạc có thể đỏ, có dử mắt, chảy nước mắt.

Nôn: Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn.

Không có các biểu hiện nhiễm khuẩn.

Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ và sau 3-5 ngày sẽ giảm dần rồi mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh.

Xử trí sốt do virus ở trẻ

Các bệnh do virus gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng, đối với sốt virus ở trẻ em cũng vậy. Do đó, các biện pháp thường áp dụng là:

Hạ sốt: Thường dùng paracetamol liều 10 mg/kg, 6 giờ/lần.

Chườm mát: Lau mình trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng.

Chống co giật: Nếu trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao.

Bù nước và điện giải: Khi sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rốt loạn cân bằng điện giải trong cơ thể, nên dùng các thuốc có tác dụng bù lượng nước mất qua da và điện giải do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng.

Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.

Dinh dưỡng: Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng.

Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín.

Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: Trẻ sốt cao trên 38,5 độ C, đặc biệt là trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng; lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, tăng dần; buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.

Sốt virus dễ gây thành dịch nên khi trẻ bị nhiễm bệnh, cần cách ly và giữ ấm. Khi trẻ bị ốm, không nên cho đến trường. Một số bệnh do virus đã có văcxin như viêm não Nhật Bản, sởi, quai bị, rubella...

2. Sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Hai loại muỗi vằn truyền bệnh có tên khoa học là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó chủ yếu là do Aedes aegypti.

Bệnh có hai thể (sốt dengue và sốt xuất huyết dengue), xảy ra ở tất cả các nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh, xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa.

Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết:

  • Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh.
  • Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc cùng lúc làm cho công tác điều trị hết sức khó khăn, có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội.

Biểu hiện của bệnh:

Thể bệnh nhẹ: (thường là thể sốt dengue, chủ yếu bị ở người lớn, khu vực thành thị, những nơi mật độ dân số cao, ít khi dẫn đến tử vong)

  • Sốt cao đột ngột 39 – 40 độ C, kéo dài 2 – 7 ngày, khó hạ sốt.
  • Đau đầu dữ dội ở vùng trán, sau nhãn cầu.
  • Có thể có nổi mẩn, phát ban.

Thể bệnh nặng: (thường là thể sốt xuất huyết dengue, chủ yếu bị ở trẻ em với tỷ lệ tử vong khá cao (30 – 40%)

Bao gồm các dấu hiệu trên kèm theo một hoặc nhiều dấu hiệu sau:

  • Chấm xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, vết bầm tím chỗ tiêm, ói ra máu, đi cầu phân đen (do bị xuất huyết nội tạng).
  • Đau bụng, buồn nôn, chân tay lạnh, người vật vã, hốt hoảng (hội chứng choáng do xuất huyết nội tạng gây mất máu, tụt huyết áp), nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

Cần làm gì khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết:

Đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế để khám, điều trị. Nếu bị nhẹ có thể chăm sóc tại nhà bằng cách:

  • Nằm nghỉ ngơi.
  • Cho uống nhiều nước, có thể cho uống dung dịch Oresol, nước trái cây càng tốt. Cho ăn nhẹ: cháo, súp, sữa.
  • Dùng thuốc hạ sốt (uống paracetamol hoặc đặt viên hạ sốt vào hậu môn, không dùng aspirin để hạ sốt), chườm mát.
  • Theo dõi liên tục, nếu thấy có bất kỳ dấu hiệu xuất huyết nào hoặc diễn biến nặng hơn (li bì, bứt rứt, vật vã, chân tay lạnh, đau bụng, nôn nhiều) cần đưa ngay đến bệnh viện.

Khi bị một trong 2 triệu chứng trên, cần đi khám và có sự tư vấn điều trị kịp thời.

(Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ)

Theo: Thuocdongduoc

| edit post

Bệnh tiểu đường là gì ?

Được đăng bởi Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012 0 nhận xét

Bệnh tiểu đường hay còn gọi là bệnh đái tháo đường (tên tiếng anh Diabetes mellitus  )Là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước.

b%E1%BB%87nh ti%E1%BB%83u %C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng1 Tiểu đường là gì

Tỉ lệ người bị bệnh tiểu đường trên thế giới rất cao, cứ mỗi 100 người thì có một người bị mắc bệnh này. và một điểu thật sự đáng buồn là nghiên cứu cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ bệnh tiểu đường chỉ đứng thứ 10 thế giới và là nước có bệnh tiểu đường phát triển nhanh nhất. Từ 2,7% người dân mắc bệnh đái tháo đường năm 2001, năm 2010, tỷ lệ này đã tăng lên hơn 6%. Đến năm 2025 số người mắc có thể tăng thành 8 triệu người.

Bệnh tiểu đường loại 1

Tiểu đường loại 1 thường xảy ra cho người dưới 40 tuổi, hay bắt đầu vào khoảng tuổi 14. Loại tiểu đường này, có lẽ do di truyền, tuy điều này chưa được hiểu rõ. Nếu có bố, mẹ, hay anh chị em ruột mang bệnh tiểu đường loại này, cơ hội để một em bé trong gia đình có thể bị bệnh là 5-10%.

Triệu chứng của tiểu đường loại 1 (do tụy tạng không tiết đủ insulin) thường đột ngột, có khi trong vòng vài ngày. Người bệnh đi tiểu luôn, lúc nào cũng khát nước, ăn uống nhiều vì ngon miệng, nhưng vẫn xuống cân. Thỉnh thoảng, có người từ trước vẫn khỏe mạnh, không có triệu chứng, nay đột nhiên hôn mê. Khi đưa vào bệnh viện và thử máu, mới thấy đường lên quá cao trong máu. Đo lượng insulin trong máu, thấy chất insulin trong máu người bệnh rất thấp hoặc không thấy có insulin gì cả.

Sao tụy tạng lại không tiết đủ insulin để xảy ra cớ sự? Điều này còn nằm trong vòng giả thuyết, chưa ai biết rõ. Người ta ngờ rằng, vì di truyền, các tế bào beta của tụy tạng đã "yếu" sẵn. Vào một hôm định mệnh, tụy tạng bị siêu vi trùng (virus) tấn công, các tế bào beta đã yếu sẵn nên quị luôn, hư hoại, không còn khả năng tiết ra insulin.

Một khi người bệnh đã có triệu chứng gây do tiểu đường loại 1, sự chữa trị là chích chất insulin vào, để thay thế cho chất insulin không có đủ trong cơ thể.

Bệnh tiểu đường loại 2

Tiểu đường loại 2 thường xảy ra ở người trên tuổi 40

80% số người bị bệnh tiểu đường loại này béo mập, nặng cân hơn bình thường. Khi đo lượng insulin trong máu những người nặng cân và bị bệnh tiểu đường , người ta thấy insulin trong máu bình thường, hoặc có khi còn cao hơn bình thường.

Nhiều người thắc mắc rằng insulin trong người, mà vẫn bị tiểu đường. Chỉ vì, muốn dùng được insulin, trên mặt các tế bào phải có đủ những chỗ tiếp nhận insulin, gọi là "insulin receptors". Trên mặt các tế bào mỡ của những người bị tiểu đường loại 2 không có đủ những chỗ tiếp nhận hầu insulin có thể bám vào để tác động, đưa đường từ ngoài máu vào bên trong tế bào. Nên cơ chế chính gây tiểu đường loại 2 ở những vị béo mập là do các tế bào mỡ thiếu những chỗ tiếp nhận insulin, và sự chữa trị hàng đầu là xuống cân.

Sự di truyền trong trường hợp tiểu đường loại 2 còn mạnh hơn loại 1. Nếu có anh hay em sinh đôi bị tiểu đường loại 2, người kia trước sau gì cũng bị tiểu đường cùng loại. Nếu có bố mẹ bị tiểu đường loại này, gần như 1/3 con cái sinh ra sau này cũng bị tiểu đường, hoặc có những thử máu bất thường.

Ai dễ bị bệnh tiểu đường loại 2?

Từ tuổi 45 trở đi, tiểu đường loại 2 dễ xuất hiện. Bệnh tiểu đường loại 2 có thể đến sớm hơn:

  • Người béo mập (sức nặng 20% trên sức nặng lý tưởng).
  • Có bố, mẹ, anh, chị, em ruột mang bệnh tiểu đường .
  • Người Á đông (Asian), Mỹ gốc Phi châu (African American), Mỹ gốc da đỏ (Native American), và người gốc Hispanic.
  • Sanh con nặng trên 9 pounds hoặc bị tiểu đường lúc mang thai.
  • Có cao áp huyết (áp huyết 140/90 trở lên).
  • Có lượng cholesterol tốt (HDL) 35 mg/dl trở xuống, hay lượng mỡ triglyceride trong máu 250 mg/dl trở lên

Xem thêm :

| edit post