Hiển thị các bài đăng có nhãn Tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Bảo vệ tim với tỏi tươi

Người đăng: Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009 0 nhận xét

ác dụng của tỏi tươi đối với sức khỏe không có gì mới. Tuy nhiên, những thực nghiệm hiện đại mới nhất của các nhà khoa học Mỹ đã chỉ rõ: ăn bao nhiêu, ăn như thế nào sẽ giúp bảo vệ tim tốt nhất.


Chỉ cần 1 tép tỏi tươi cắt nhỏ mỗi ngày là đủ để bảo vệ tim

Từ ít nhất cách đây 1.500 trước công nguyên, các lương y Trung Quốc và Ấn Độ đã dùng loại củ có mùi kinh khủng này như một loại thuốc làm loãng máu điều hòa huyết áp. Còn Hippocrate, cha đẻ của ngành y học hiện đại thì dùng nó để điều trị ung thư ở vùng cổ.

Louis Pasteur thì ghi nhận tính kháng khuẩn và chống nấm của tỏi và phát hiện này đã được Albert Schweitzer ứng dụng vào điều trị bệnh lỵ ở châu Phi.

Nhưng nay, một nhóm các nhà nghiên cứu của TT Nghiên cứu bệnh tim mạch, ĐH Y Connecticut (Mỹ) đã tìm hiểu cách dùng tỏi tươi (không phải tỏi khô hay tỏi nấu chín) để bảo vệ tim và huyết áp.

Tại sao tỏi tươi lại tốt hơn?

Tỏi tươi giã nát sản sinh ra nhiều hydrogen sulfide, một loại khí thường gặp ở trứng thối. Mặc dù khí này nếu nhiều quá thì sẽ trở thành chất độc, nhưng với 1 lượng nhỏ thì sẽ hoạt động như một hợp chất trong nội tế bào và có khả năng bảo vệ tim và huyết áp.

Do khí hydrogen sulfide là một loại khí ga chỉ tồn tại trong 1 thời gian ngắn nên nó sẽ nhanh chóng biến mất khi bị khô, chế biến, nấu chín...

Tỏi khô hay tỏi đã chế biến vẫn giữ lại các chất chống ôxy hóa, tuy có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi các gốc tự do nhưng không thể phát huy công dụng tối đa như tỏi tươi.

Trong nghiên cứu được đăng tải ngày 12/8 trên tạp chí Agricultural & Food Chemistry, các nhà khoa học đã lấy tỏi tươi giã và tỏi khô cho các con chuột mắc bệnh tim ăn. Kết quả cho thấy, cả tỏi tươi và tỏi khô đều giúp giảm tình trạng thiếu ôxy nhưng tỏi tươi có hiệu quả tốt hơn đối với sự dịch chuyển của dòng máu trong động mạch chủ, và làm tăng áp lực tâm thất trái.

Các mẹo dùng tỏi tươi

Lượng tỏi tươi lý tưởng để mang lại những lợi ích tối đa cho sức khỏe trái tim là 1 tép tỏi/ngày. Cách chế biến tốt nhất là cắt nhỏ tép tỏi, để nó ngoài không khí 10-15 phút, rồi trộn với sữa chua, táo xay, mật ong hay một món ăn nào đó.

Nên ăn một vài nhánh mùi sau đó để hơi thở không có mùi tỏi.

Sử dụng máy đo huyết áp để kiểm tra thường xuyên để nhận biết các dấu hiệu bất thường.

Sớm trừ họa lớn cho tim, não

Người đăng: Gia Đình & Sức Khỏe Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2009 0 nhận xét

Hội chứng chuyển hóa là sự hiện diện cùng lúc một số yếu tố nguy cơ như đường huyết, mỡ trong máu và huyết áp. Những người mắc hội chứng này có nguy cơ bị tiểu đường hay bệnh tim mạch cao hơn so với người khác.

Ăn nhiều rau xanh sẽ giúp phòng chống hội chứng chuyển hoá. Ảnh: Mai Lan

Nguyên nhân của hội chứng hiện vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên các nhà khoa học đã có chung một nhận định rằng có nhiều yếu tố dẫn đến hội chứng chuyển hoá như yếu tố di truyền, ít hoạt động thể lực, lão hóa, tình trạng tiền viêm nhiễm và những thay đổi hormone. Trong đó, tình trạng kháng insulin và béo bụng là hai yếu tố được cho là nguyên nhân chính.

Người mắc hội chứng chuyển hoá có nguy cơ bị tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim cao gấp ba lần so với người không có hội chứng này. Họ cũng có nguy cơ bị tiểu đường cao gấp năm lần so với người bình thường. Để điều trị hội chứng chuyển hoá, đầu tiên là thay đổi lối sống, nếu không thành công mới dùng thuốc:

Giảm cân nếu béo phì: giảm từ 5 – 10% trọng lượng hiện tại hay giảm xuống mức BMI cho phép (BMI của người trưởng thành trong khoảng 18,5 – 23 kg/m2).

Giảm muối: người không cao huyết áp ăn từ 3 – 6g/người/ngày. Người cao huyết áp ăn từ 2 – 4g/người/ngày. Một muỗng cà phê chứa 4g muối. Một muỗng canh nước mắm 5ml chứa khoảng 1g muối. Một muỗng canh nước tương 5ml chứa khoảng 0,75g muối.

Tăng kali: ăn khoảng 4,7g kali/ngày. Kali có nhiều trong nho khô, trái cây khô, khoai tây, chuối, nước dừa, nước rau luộc.

Hạn chế lượng cồn: đối với những người có thói quen uống rượu, nếu là nam chỉ nên sử dụng hai đơn vị cồn/ngày và một đơn vị cồn/ngày đối với nữ. Một đơn vị cồn được định nghĩa bằng 330ml bia 5% độ cồn (khoảng một lon bia) hoặc 150ml rượu 12% độ cồn (một ly cao) hoặc 45ml rượu 40% cồn (một ly nhỏ).

Tăng hoạt động thể lực: ưu tiên các loại hình thể thao dùng sức vừa phải và thời gian kéo dài (ít nhất 45 phút) như bóng bàn, cầu lông, đi bộ, chạy chậm, đạp xe, bơi lội.

Ăn nhiều chất xơ: có nhiều trong rau, củ, quả. Nên ăn từ 300 – 400g rau, củ và 200g trái cây mỗi ngày.

Hạn chế đường: chỉ nên ăn dưới 20g/người/ngày hay dưới 500g/người/tháng. Một muỗng cà phê đường chứa 4,7g đường (đối với muỗng gạt ngang) và 10,7g đường (đối với muỗng vun).

ThS.BS Trần Quốc Cường,
Khoa dinh dưỡng lâm sàng,
trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM

Bà bầu và bệnh tim mạch

Người đăng: Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Ba, 10 tháng 11, 2009 0 nhận xét

Bệnh tim mạch là 1 trong 4 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho bà mẹ mang thai (nhiễm trùng, tăng huyết áp do thai kỳ và xuất huyết).

Sự stress sinh lý khi mang thai và sinh nở thường nặng nề ở người mẹ có bệnh tim mạch và là nguyên nhân gây tử vong cho cả mẹ và con. Nói chung, tiên lượng cho bà mẹ bị bệnh tim mà mang thai thì tốt nhưng phải được theo dõi thường xuyên và cẩn thận. Sự mất bù chức năng tim chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong cho bà mẹ. Tỉ lệ tử vong ở trẻ tăng lên cùng với sự mất bù do mắc kẹt trong tử cung, tình trạng thiếu oxy và sự tăng khí CO2 trong máu còn gây sẩy thai hoặc sinh non.

Nguyên nhân và tần suất mắc bệnh

Khoảng 1-2% phụ nữ mang thai có bệnh tim nhưng tần suất ngày càng tăng, do những tiến bộ y khoa ngày nay cho phép nhiều phụ nữ bệnh tim được mang thai, chẳng hạn như bệnh tim do thấp (hiện diện trên 80% bệnh nhân bị biến chứng tim mạch) hoặc bệnh tim bẩm sinh (hiện diện ở 10- 15% bệnh nhân) sẽ có cơ may được sinh con so với trước đây là không được phép. Bệnh mạch vành ước tính khoảng 2% các biến chứng tim mạch.

Tim mắc bệnh tất nhiên vào một thời điểm nào đó không đáp ứng đủ nhu cầu bình thường của người mang thai: tăng lên 25% cung lượng tim, tăng thể tích tuần hoàn lên 40-50%, tăng nhu cầu oxy, tích tụ nước và muối, tăng cân và những biến đổi huyết động học khác trong thai kỳ. Những thay đổi sinh lý học này thường dẫn đến tình trạng suy tim so với tuần hoàn tương ứng (mất bù). Sự mất bù (không đáp ứng đủ nhu cầu) nhiều ít tùy thuộc vào tuổi bệnh nhân, thời gian mắc bệnh tim và chức năng còn lại của tim bị bệnh khi bắt đầu mang thai.

Biểu hiện triệu chứng trong khi mang thai

Triệu chứng nổi bật của người phụ nữ có bệnh tim khi mang thai là sự nổi rõ lên của tĩnh mạch cảnh, các tiếng thổi ở tim (tiếng thổi tâm trương), ứ đọng dịch ở đáy phổi, sự lớn của tim (phát hiện trên phim Xquang) và tình trạng rối loạn của nhịp tim (nhịp nhanh xoang hoặc cơn nhịp nhanh nhĩ kịch phát). Những bất thường đặc trưng khác là xanh tím, tiếng cọ màng tim, sự chậm trễ của mạch đập... Sự mất bù của tim có thể phát triển nhanh chóng hay chỉ từ từ với dấu hiệu ứ dịch ở đáy phổi. Khi tiến triển có thể gây phù, tăng khó thở khi gắng sức, hồi hộp, mệt và có thể khái huyết (ho ra máu).

Chẩn đoán bệnh tim khi mang thai

Thầy thuốc khám bệnh sẽ dựa vào âm thổi tâm trương, sự lớn của tim, các rối loạn nhịp... để nghi ngờ mắc bệnh tim mạch trước đó. Xác định độ nặng – nhẹ của bệnh cần thiết phải làm điện tâm đồ, siêu âm tim hoặc các xét nghiệm chuyên sâu khác. Trên Xquang lồng ngực có thể phát hiện tim to và sung huyết phổi. Các biện pháp thăm dò tim mạch xâm lấn nên được trì hoãn đến sau khi sinh, trừ trường hợp quá cần thiết. Việc chụp hình với tia X phải thật cẩn trọng ở bệnh nhân có thai, vì có thể gây hại cho thai nhi.

Mục tiêu điều trị

Mục tiêu của việc điều trị trước khi sinh là giúp chống lại biến chứng và hạn chế tối đa sự tiến triển của bệnh, nghỉ ngơi tránh gắng sức là lời khuyên đầu tiên dành cho các bà mẹ mang thai có bệnh tim. Những thời điểm cần thiết là phải nhập viện để được theo dõi chặt chẽ các rối loạn chức năng tim mạch, khi bệnh nhân có rối loạn chức năng tim trung bình hoặc có triệu hứng của sự mất bù, nhiễm độc thai nghén hay bị nhiễm trùng. Những phụ nữ lớn tuổi hoặc có tình trạng mất bù trước khi mang thai thì cần thiết phải nhập viện và nghỉ ngơi tại giường trong thời gian mang thai.

Khi cần phải dùng thuốc điều trị thì nên chọn lựa những thuốc có độ an toàn cao nhất cho thai nhi và với liều lượng thấp nhất có thể đạt hiệu quả, nhằm giảm tối đa ảnh hưởng có hại cho thai. Thuốc lợi tiểu và thuốc làm tăng huyết áp, thể tích máu hoặc cung lượng tim nên được dùng với sự cẩn trọng cao độ. Nếu phải dùng thuốc kháng đông máu thì nên chọn heparin. Các thuốc cường tim và chống loạn nhịp thông thường như quinidine, procainamide thường được lựa chọn. Thuốc kháng sinh dự phòng có thể cần thiết cho bệnh nhân nghi bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

Việc cho ngưng thai kỳ có thể được đặt ra với những trường hợp bị suy tim nặng, đặc biệt là mất bù xảy ra trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Bệnh nhân nhập viện với tình trạng suy tim thường được điều trị bằng glycoside cường tim, oxy, nghỉ ngơi, an thần kinh, lợi tiểu, hạn chế muối và nước. Nếu bệnh nhân vẫn không cải thiện triệu chứng sau điều trị thì xem xét đến chỉ định phẫu thuật ở một số trường hợp bệnh tim. Trong thời gian chuyển dạ thì người mẹ cần phải được cung cấp oxy, giảm đau (meperidin hoặc morphine) để giảm stress cho cả mẹ lẫn con. Nên dùng thủ thuật hỗ trợ cho thai ra để tránh sản phụ gắng sức làm tăng nặng bệnh tim, thậm chí có thể chỉ định mổ bắt con khi cần thiết.

Sản phụ cần được nghỉ ngơi tại giường và chế độ thuốc men bệnh tim trong ít nhất 1 tuần sau sinh vì tần suất cao của mất bù, suy tuần hoàn, tử vong cho mẹ sau khi sinh. Các biến chứng này là kết quả của việc giải phóng đột ngột áp lực trong ổ bụng lúc sinh, hoặc sự chuyển dịch của nước ngoại bào có thể làm tăng gánh cho tim, đặc biệt là tích tụ dịch mô kẻ quá mức. Vấn đề cho con bú cũng cần phải xem xét ở những bà mẹ có mất bù nặng chức năng tim, vì làm tăng nhu cầu dịch và chuyển hóa trên tim bệnh.

Theo BS. Bùi Minh Trạng – Sức khỏe và đời sống

Bệnh tăng huyết áp xuất hiện nhiều ở thanh niên

Người đăng: Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009 0 nhận xét

Trước đây, tăng huyết áp được coi là bệnh của người già, nhưng gần đây nhiều người trẻ cũng mắc bệnh này. Cứ 10 người trên 24 tuổi thì có khoảng 3 người bị tăng huyết áp.

Đo huyết áp thường xuyên là điều cần thiết không chỉ với người già mà cả người trẻ. Ảnh: 30.com.

Bác sĩ Ngô Chí Hiếu, Trưởng khoa hồi sức, Bệnh viện Tim Hà Nội cho biết, người bị tăng huyết áp thường kèm theo bệnh lý về tim hoặc các bệnh khác khiến huyết áp tăng. Ngoài ra, sự thay đổi lối sống, ít tập thể dục, ăn nhiều chất có hàm lượng cholesterol cao, hút thuốc lá, uống rượu bia... cũng khiến cho rất nhiều người dù còn trẻ nhưng đã bị tăng huyết áp.

Trường hợp của Nam, ở Cầu Giấy, Hà Nội là một ví dụ. Mới 22 tuổi nhưng sau một lần gắng sức tập thể dục, Nam đã bị liệt nửa người, hôn mê phải vào bệnh viện cấp cứu.

Cậu được bác sĩ chẩn đoán là bị xuất huyết não. Nguyên do là cậu có tiền sử bị tăng huyết áp lại trên nền dị dạng mạch máu khiến mạch máu bị vỡ, gây xuất huyết. Khả năng hồi phục lại như bình thường là rất khó.

Theo bác sĩ Hiếu, những trường hợp của Nam không phải là hiếm gặp. Trước đây thường chỉ có người già đi khám tăng huyết áp nhưng nay rất nhiều người trẻ cũng bị bệnh này.

Tuy nhiên, bệnh này thường bị bỏ qua vì người trẻ thường cho rằng mình có sức khỏe tốt nên không để ý, đến khi bệnh biến chứng nặng mới vào viện. Ngoài ra, ở người trẻ biểu hiện bệnh thường không rõ ràng. Người già bị tăng huyết thường thấy chóng mặt, đau đầu, mắt nhìn mờ... . Nhưng với người trẻ thì chỉ thấy đau ngực hoặc hơi đau đầu.

Bác sĩ Hiếu khuyến cáo, dù triệu chứng đơn giản như thế nhưng bệnh rất nguy hiểm. Vì người mắc bệnh này lâu thường dẫn suy tim, thận nên nếu bị tăng huyết áp càng sớm thì quá trình suy tim, thận sẽ diễn ra nhanh hơn. Nếu không theo dõi, điều trị có thể dẫn đến biến chứng nặng như: tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, mù lòa..., thậm chí tử vong.

Bệnh không thể chữa khỏi nhưng người bệnh có điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt kết hợp dùng thuốc định kỳ theo dõi để ổn định huyết áp. Không nên uống nhiều rượu bia, ăn những thực phẩm nhiều cholesterol như phủ tạng động vật, lòng trắng trứng hay thực phẩm chứa nhiều lipit... Tập thể dục thường xuyên, ngủ đủ giấc.

Theo bác sĩ, mỗi người nên có thói quan kiểm tra định kỳ, tự đo huyết áp. Nếu cảm thấy cơ thể không khỏe, đau đầu không giải thích được, hồi hộp, tim đập nhanh nên đi khám.

Ăn quá no gây đau tim co thắt

Người đăng: Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009 0 nhận xét

Sự phát sinh của bệnh mạch vành tim liên quan mật thiết với chế độ ăn uống. Muốn bệnh giảm, một yêu cầu bắt buộc là không nên ăn quá no.

Bệnh do không biết cách ăn

Theo nghiên cứu, sự phát sinh của bệnh động mạch vành liên quan chặt chẽ với lượng mỡ cao trong ăn uống, với hàm lượng cholesterol cao. Nếu thường xuyên ăn no không chừng mực, ăn nhiều mỡ, vị đậm thì sẽ tổn thương tỳ vị, không vận hóa được chất tinh của thức ăn uống vào, thấp tích thành đờm, phạm đến ngực và tim, dương ở ngực bị cản trở, huyết mạch không thông sẽ gây ra bệnh này.

Nguyên tắc ăn uống của người có bệnh này là hợp lý trong bữa ăn, dinh dưỡng toàn diện, nhiều chất, ít tanh, đừng no quá nhưng không đói, không hút thuốc lá và uống rượu.

Tốt nhất là nên ăn uống thanh đạm, ít tanh có sự phối hợp với các loại thức ăn khác như rau tươi giàu vitamin, trái cây, các loại đậu có hàm lượng protein thực vật cao, các thức ăn chế biến bằng đậu, thịt nạc, cá nước ngọt...

Ăn no gánh nặng cho tim. Ảnh: us.gizmodo.com

Ăn no - gánh nặng cho tim

Người bị động mạch vành là không nên ăn quá no, đặc biệt là những người sau khi dùng bữa sinh ra đau tim co thắt, càng phải chú ý. Khi ăn quá no, thức ăn có thể làm tăng gánh nặng cho tạng tim, làm cho bụng bị đầy hơi, cơ hoành cách mô phải nâng cao lên khiến cho sự co bóp của tim bị hạn chế, không được bình thường thoải mái.

Đồng thời do nhu cầu tiêu hóa thức ăn, huyết dịch trong toàn thân phải tập trung tương đối nhiều ở đường ruột và dạ dày, làm cho sự cung cấp máu của động mạch vành càng không đủ, cơ tim càng thiếu máu và thiếu oxy nặng hơn, dễ phát sinh ra tình trạng tim đau thắt, thậm chí làm cho cơ tim bị cứng và tắc nguy hiểm đến tính mạng.

Bữa tối ăn quá no càng nguy hiểm hơn. Bởi khi đi ngủ, lưu thông trong máu sẽ chậm lại, quá no làm mỡ trong máu tăng lên, nó dễ tích lắng ở thành huyết quản ảnh hưởng đến tính đàn hồi của mạch máu, dẫn tới xơ cứng động mạch. Vì vậy, cấm kỵ ăn no, thực hiện ăn uống điều độ là một phương pháp dự phòng chủ yếu.

Người mắc bệnh động mạch vành không được hút thuốc bởi hút thuốc sẽ gây ra xơ cứng và làm tắc cơ tim và là nhân tố chủ yếu gây ra động phong. Bởi vì nicotin trong thuốc lá và oxit cacbon trong khói thuốc có độc tính và có tác dụng gây viêm đối với thành động mạch vành và tế bào cơ tim.

Nicotin còn có thể gây kích ứng làm cho cơ tim càng đập nhanh và mạch máu co lại. Oxit cacbon có thể làm cho thành động mạch thiếu oxy, hàm lượng cholesterol trong huyết thanh lên cao, những điều đó đều có thể tăng nhanh sự cơ cứng của động mạch vành xấu đi.

  • BSCKII Nguyễn Đức Lê
Sự phát sinh của bệnh mạch vành tim liên quan mật thiết với chế độ ăn uống. Muốn bệnh giảm, một yêu cầu bắt buộc là không nên ăn quá no.