Phòng chống đái tháo đường (Phần II)

Được đăng bởi Gia Đình & Sức Khỏe Thứ Ba, ngày 14 tháng 12 năm 2010

ĐTĐ đang là một vấn đề có tính chất toàn cầu, trở thành gánh nặng cho toàn xã hội.

Bệnh có tốc độ phát triển nhanh

Vào những năm cuối thế kỷ 20 và đầu những năm của thế kỷ 21, ĐTĐ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất. Bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 hoặc 5 ở các nước phát triển, ĐTĐ cũng được xem là đại dịch ở các nước đang phát triển. Điều đáng lo ngại là ĐTĐ tăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong số bệnh nhân ĐTĐ ở các nước này thì ĐTĐ týp 2 chiếm tỷ lệ cao. Sự bùng nổ ĐTĐ týp 2 và những biến chứng của bệnh đang là thách thức lớn với cộng đồng.

Điều đáng lo ngại là tình trạng quản lý bệnh ĐTĐ còn yếu và chưa được chặt chẽ không chỉ ở những nước đang phát triển mà ngay cả những nước phát triển. Người ta thấy việc chẩn đoán ĐTĐ giống như một tảng băng, phần nổi - phần được chẩn đoán chiếm một phần nhỏ còn phần lớn chưa được chẩn đoán là phần chìm của tảng băng này.

Phòng chống đái tháo đường (Phần II)

Vì sao ĐTĐ týp 2 thành đại dịch?

Tuy đã chiếm được mối quan tâm nghiên cứu về cả phòng bệnh trong cộng đồng và điều trị chuyên sâu, nhưng chúng ta vẫn đang đứng trước một thực tế là các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ týp 2 đang gia tăng mà hiện tại chưa có biện pháp không chế hữu hiệu.

ĐTĐ là bệnh không lây nhiễm, tuy nhiên một số loại virut có thể là thủ phạm gián tiếp gây bệnh ĐTĐ, như các virut sởi, quai bị... Bản thân các loại virut này không thể gây nên bệnh ĐTĐ nhưng nó có thể gây tổn thương tụy và làm giảm khả năng sản xuất insulin. Trước đây, nhiều người cho rằng ăn quá nhiều đường glucose thì có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ, nhưng đó lại không phải là nguyên nhân. Nguyên nhân hàng đầu là giảm hoạt động thể lực và chế độ ăn giàu năng lượng, ít chất xơ. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân, béo phì. Béo phì, đặc biệt béo bụng được xem là yếu tố đương nhiên dẫn tới kháng insulin và hội chứng rối loạn chuyển hóa và tiến tới đái tháo đường týp 2. Rối loạn dung nạp glucose và suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói sẽ làm phát triển tình trạng kháng insulin, tiến tới ĐTĐ týp 2. Các yếu tố được coi là có nguy cơ cao khác dễ có khả năng phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 là: 45 tuổi trở lên; người có BMI = 23 trở lên; người có người thân cận kề đã mắc bệnh ĐTĐ; phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt (thai chết lưu, sảy thai; ĐTĐ thai kỳ; sinh con 4kg trở lên; người có tiền sử cân nặng khi sinh dưới 2,5kg); tăng huyết áp vô căn; người có tiền sử rối loạn dung tạp glucose hoặc suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói; người có bệnh mạch vành hoặc đột qụy.

Gánh nặng cho toàn xã hội

Bệnh nhân ĐTĐ luôn bị đe dọa bởi các biến chứng cấp và mạn tính. Nguy hiểm nhất là nguy cơ hạ đường huyết (cấp) và biến chứng tim mạch... Một nhiễm khuẩn thông thường cũng có thể trở nên nguy hiểm đối với tính mạng của bệnh nhân ĐTĐ. Các biến chứng này cùng với stress không chỉ làm chất lượng sống của người bệnh giảm đi mà còn làm hao tổn cả tuổi thọ, do đó bệnh ĐTĐ được xem là "kẻ giết người thầm lặng". Một người ở lứa tuổi 40-50 được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ sẽ mất đi trung bình là 10 năm sống. Người mắc ĐTĐ týp 2 có bệnh lý mạch vành cao gấp 2 - 6 lần so với người không bị ĐTĐ.

Chi phí cho điều trị bệnh ĐTĐ là một chi phí phức tạp, tổng hợp của nhiều yếu tố do nó phải gắn liền với giải quyết biến chứng của bệnh, đặc biệt là những người phải nằm viện thì thường các biến chứng chiếm tới 2/3 tổng chi phí điều trị. Chi phí cho quản lý sức khỏe của người mắc bệnh ĐTĐ gấp 2-4 lần người không mắc bệnh này, bao gồm cả thuốc, trang thiết bị, xét nghiệm cận lâm sàng, chi phí thường xuyên đi khám bệnh... Ngoài các chi phí trực tiếp thì xã hội phải gánh vác các khoản chi phí gián tiếp cho bệnh nhân ĐTĐ như chất lượng sản phẩm lao động bị giảm sút do lo lắng, nghỉ ốm, nghỉ mất sức...

Tác động của tử vong và biến chứng sớm do ĐTĐ lên sức sản xuất, chi phí tài chính và xã hội là rất lớn, bởi bệnh ĐTĐ týp 2 xảy ra ở độ tuổi từ 26-64 - lứa tuổi lao động chính tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho cả cộng đồng và cho mỗi gia đình

Làm thế nào để phòng chống ĐTĐ týp 2?

Về phương diện dự phòng việc điều trị với mục đích phòng bệnh ĐTĐ nên được tiến hành sớm ngay từ khi có các dấu hiệu của hội chứng chuyển hóa. Để phòng chống bệnh ĐTĐ có hiệu quả, người ta chia ra các mức phòng bệnh:

- Dự phòng cấp 1: Phòng cho những người có yếu tố nguy cơ. Mục đích làm giảm tỷ lệ mắc mới của bệnh; hoặc làm chậm thời gian phát bệnh trên lâm sàng.

- Dự phòng cấp 2: Phòng cho những người đã mắc bệnh ĐTĐ. Mục đích làm chậm xuất hiện các biến chứng và/hoặc làm giảm mức độ nặng của các biến chứng.

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để giúp người bệnh dự phòng được bệnh? Để phòng bệnh tốt, điều quan trọng là công tác tuyên truyền, giáo dục cho cộng đồng, cho nhân viên y tế, cho người bệnh hiểu về bệnh ĐTĐ. Người bệnh tự giác thực hiện các nguyên tắc phòng chống bệnh là yếu tố then chốt bảo đảm quản lý thành công bệnh.

TS.Nguyễn Vinh Quang (Phó Giám đốc BV Nội tiết TW)

Nguồn: Phòng chống đái tháo đường (Phần II)

0 nhận xét

Đăng nhận xét